WT4.comTương lai, đáng tin
Xu hướng công nghệ toàn cầu

Công nghiệp 4.0 là gì và có ý nghĩa gì với Việt Nam

Với Việt Nam, công nghiệp 4.0 nghĩa là lợi thế cạnh tranh dịch từ nhân công rẻ sang dữ liệu, kỹ năng và hạ tầng đáng tin, một cơ hội leo nấc chuỗi giá trị nếu doanh nghiệp và người lao động thích nghi từng bước.

Cánh tay robot cộng tác làm việc cạnh công nhân trên dây chuyền lắp ráp

Công nghiệp 4.0 thật sự có nghĩa gì với Việt Nam? Nghĩa là máy móc, sản phẩm và quy trình ngày càng được kết nối, đo đếm và tự động hoá một phần, còn lợi thế cạnh tranh dịch dần từ chỗ chỉ dựa vào nhân công rẻ sang dữ liệu, kỹ năng và hạ tầng đáng tin cậy. Với Việt Nam, một nền sản xuất và xuất khẩu lớn dựa nhiều vào vốn đầu tư nước ngoài, đây vừa là cơ hội leo lên nấc cao hơn trong chuỗi giá trị, vừa là nguy cơ mắc kẹt ở những công đoạn ít giá trị nhất trong lúc tự động hoá làm giảm nhu cầu lao động giản đơn.

Bài này vẽ bức tranh thực tế thay vì khẩu hiệu. Bài giải thích khái niệm bao gồm những gì, điểm qua các xu hướng toàn cầu chính và ý nghĩa của từng xu hướng ở trong nước, đánh giá Việt Nam đang đứng ở đâu, đưa ra lộ trình từng bước cho doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ, đi qua ba tình huống ở Việt Nam, liệt kê những sai lầm hay gặp và chỉ ra lúc nào nên tìm chuyên gia.

Công nghiệp 4.0 thật ra là gì, và không phải là gì?

Cụm từ này khởi đầu là Industrie 4.0, một sáng kiến của Đức vào đầu những năm 2010 để gọi tên giai đoạn tiếp theo của sản xuất sau cơ giới hoá, sản xuất hàng loạt và tự động hoá bằng máy tính. Ý tưởng là nhà máy sẽ thành mạng lưới máy móc và sản phẩm được kết nối, tự báo trạng thái của mình, còn phần mềm phân tích dữ liệu đó để điều chỉnh sản xuất gần như tức thời. Diễn đàn Kinh tế Thế giới sau đó phổ biến cụm từ rộng hơn là “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, kéo dãn nó ra bao trùm cả AI, công nghệ sinh học và nhiều thứ khác.

Nói cho thực tế, công nghiệp 4.0 dựa trên một nhóm công nghệ phối hợp với nhau: cảm biến và Internet vạn vật (IoT) để đo máy móc, sản phẩm đang làm gì; mạng và điện toán đám mây hoặc điện toán biên (edge computing) để chuyển và xử lý dữ liệu; phân tích dữ liệu và AI để tìm quy luật, dự báo trục trặc; tự động hoá và robot để hành động; và bản sao số (digital twin), mô hình ảo của một dây chuyền hay sản phẩm, để thử thay đổi trước khi làm thật.

Nó không có nghĩa là nhà máy tắt đèn không một bóng công nhân, cũng không phải một lần mua phần mềm lớn là doanh nghiệp lột xác sau một đêm. Phần lớn tiến bộ 4.0 thật sự diễn ra từng chút: biết chính xác mỗi máy dừng bao lâu và vì sao, bắt lỗi sản phẩm sớm hơn, bảo trì trước khi máy hỏng, và nối hệ thống văn phòng lo đơn hàng với xưởng làm ra hàng.

Nó cũng không mang cùng một nghĩa với mọi doanh nghiệp. Với một hãng ô tô toàn cầu, đó có thể là hàng nghìn robot và dữ liệu chuỗi cung ứng tích hợp. Với một xưởng năm mươi người, có khi bắt đầu chỉ bằng một máy tính bảng ở mỗi máy và dẹp sổ ghi sản lượng bằng giấy. Cả hai đều chính đáng, và cách thứ hai thường là nơi thu hồi vốn nhanh nhất.

Thuật ngữ này đã bị tiếp thị kéo giãn tới mức gần như phần mềm nào cũng bán được với mác “4.0”. Một phép thử hữu ích là hỏi: cái gì sẽ được đo mà hôm nay chưa đo, và quyết định nào sẽ thay đổi nhờ nó. Không ai trả lời được thì đó là cái nhãn, chưa phải dự án.

Các xu hướng toàn cầu chính và ý nghĩa với Việt Nam

Xu hướng toàn cầu không đổ bộ đều nhau. Cột bên phải là nhận định về mức liên quan trong nước, dùng làm điểm khởi đầu để bàn chứ không phải dự báo.

Xu hướngThế giới đang diễn ra gìÝ nghĩa với Việt Nam
AI và AI tạo sinhĐược áp dụng nhanh trong việc văn phòng, phần mềm, chăm sóc khách hàng, thiết kế; đầu tư lớn vào mô hình và chip.Tăng năng suất cho dịch vụ và khối hậu cần văn phòng; sức ép lên việc gia công lặp lại; cần công cụ tiếng Việt và kỹ năng AI.
Tự động hoá và robotRobot và robot cộng tác lan ra ngoài nhà máy ô tô; cảm biến và hệ thống thị giác máy rẻ hơn.Lắp ráp thâm dụng lao động sẽ tự động hoá từng bước; người lao động cần kỹ năng vận hành và bảo trì thiết bị.
Đa dạng hoá chuỗi cung ứngDoanh nghiệp rải sản xuất ra nhiều nước để giảm rủi ro.Dòng vốn sản xuất tiếp tục vào, nhưng cạnh tranh với các nước châu Á khác; sức ép nâng năng lực nhà cung cấp trong nước.
Bán dẫnChính phủ các nước trợ cấp sản xuất chip và hạn chế xuất khẩu chip tiên tiến.Tăng trưởng ở khâu lắp ráp, kiểm thử, thiết kế chip; thách thức kỹ năng rất lớn.
Chuyển dịch năng lượng và trung tâm dữ liệuNhu cầu điện từ trung tâm dữ liệu tăng; người mua đòi chuỗi cung ứng sạch hơn.Cần điện ổn định, sạch để hút đầu tư; doanh nghiệp xuất khẩu bị hỏi về dấu chân carbon.
Hạ tầng số công cộngĐịnh danh số quốc gia, thanh toán tức thời, trao đổi dữ liệu.Thương mại và dịch vụ số nhanh hơn; rủi ro lừa đảo và quyền riêng tư mới phải quản lý.
An ninh mạngMã độc tống tiền và tấn công chuỗi cung ứng đánh vào nhà máy, logistics.Nhà máy kết nối phải tính chi phí bảo mật ngay từ đầu, không đợi tới khi có sự cố.
Truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩnCác thị trường lớn đòi bằng chứng về xuất xứ, tính bền vững và dữ liệu tuân thủ.Doanh nghiệp xuất khẩu nông sản và hàng chế tạo cần hồ sơ và hệ thống dữ liệu đáng tin.

Mạch chung là dữ liệu và kỹ năng ngày càng quyết định giá trị được tạo ra ở đâu, còn riêng nhân công rẻ ngày càng là lợi thế yếu dần.

Việt Nam đang đứng ở đâu?

Việt Nam bước vào giai đoạn này với những thế mạnh thật. Nước ta đã thành một trong những trung tâm sản xuất và xuất khẩu lớn của khu vực, nhất là điện tử, dệt may, giày dép, đồ gỗ, phần lớn qua các nhà máy vốn nước ngoài. Dân số tương đối trẻ, tỷ lệ dùng internet và điện thoại thông minh cao, thanh toán số lan rất nhanh nhờ những đường ray dùng chung mà bài giải thích về hạ tầng số công cộng đã nói. Ngành gia công phần mềm cũng đã gây dựng được một lực lượng kỹ sư đáng kể.

Những giới hạn cũng thật không kém. Phần lớn giá trị xuất khẩu của khối nhà máy vốn nước ngoài đến từ linh kiện nhập khẩu, còn doanh nghiệp trong nước thường cung cấp chi tiết hoặc dịch vụ đơn giản hơn. Chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển còn khiêm tốn. Rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn chạy bằng giấy, bảng tính và quan hệ cá nhân, chật vật đáp ứng yêu cầu chất lượng và dữ liệu của các khách mua lớn nước ngoài.

Hạ tầng và bán dẫn: những yếu tố quyết định

Hạ tầng là yếu tố quyết định. Sản xuất tiên tiến, trung tâm dữ liệu, nhà máy chip đều cần điện và nước ổn định, và cuộc đua toàn cầu giành nguồn điện sạch, tin cậy ảnh hưởng tới chỗ nhà đầu tư chọn xây dựng. Chuyện thiếu điện vào những đợt nắng nóng, khô hạn vài năm gần đây cho thấy vì sao điều này quan trọng.

Bán dẫn minh hoạ cả hai mặt. Việt Nam có vai trò thật và đang lớn ở khâu lắp ráp, kiểm thử, đóng gói, nhưng chưa có chế tạo tiên tiến, và kỹ năng cho công việc giá trị cao phải mất nhiều năm mới xây được, như bài về chuỗi cung ứng chip và vị trí của Việt Nam đã phân tích. Đó cũng là mẫu hình chung của công nghiệp 4.0: có chỗ đứng thật, còn leo lên được hay không tuỳ vào kỹ năng, hạ tầng và việc doanh nghiệp trong nước trở thành nhà cung cấp có năng lực.

Không có gì là cố định. Các nước leo lên chuỗi giá trị khi doanh nghiệp học được từ đối tác nước ngoài, khi người lao động có thêm kỹ năng kỹ thuật, và khi hạ tầng tốt lên. Quyết định của hàng nghìn doanh nghiệp bình thường về cách áp dụng công nghệ sẽ quan trọng không kém các chiến lược quốc gia.

Lộ trình 4.0 thực tế cho doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ

Trình tự này hợp với phần lớn nhà máy từ vài chục tới vài trăm công nhân. Mỗi bước nên tự bù được chi phí trước khi sang bước sau.

  1. Chọn một vấn đề đang đau. Chọn thứ đo được và đang tốn tiền: máy dừng, tỷ lệ hàng lỗi, giao hàng trễ, hao hụt nguyên liệu. Đừng bắt đầu từ công nghệ.
  2. Đo bằng tay cho kỹ trước. Ghi chép vấn đề vài tuần bằng biểu mẫu đơn giản hoặc bảng tính. Thường sẽ lộ ra nguyên nhân không ai ngờ, mà đằng nào cũng cần một mốc so sánh.
  3. Số hoá sổ sách. Thay sổ giấy bằng máy tính bảng hoặc ứng dụng đơn giản mà công nhân thao tác trong vài giây. Mục tiêu là dữ liệu đáng tin, chưa cần bảng điều khiển hoành tráng.
  4. Gắn cảm biến ở chỗ ghi tay còn yếu. Lắp cảm biến giá rẻ để đếm sản lượng, theo dõi trạng thái máy hay đo nhiệt độ trên những thiết bị quan trọng nhất. Bắt đầu từ một chuyền.
  5. Hành động theo dữ liệu. Đổi lịch bảo trì, đào tạo lại thợ đứng máy, sắp xếp lại mặt bằng dựa trên bằng chứng, rồi so kết quả với mốc ban đầu.
  6. Nối văn phòng với xưởng. Khi dữ liệu đã đáng tin, liên kết số liệu sản xuất với đơn hàng, tồn kho, kế toán để lập kế hoạch bằng con số thật.
  7. Tự động hoá có chọn lọc. Cân nhắc robot hay kiểm tra tự động cho việc lặp lại, nguy hiểm hoặc quyết định chất lượng, sau khi tính đủ chi phí, kể cả bảo trì và đào tạo.
  8. Xây bảo mật và kỹ năng song song. Tách mạng nhà xưởng khỏi mạng văn phòng, đổi mật khẩu mặc định trên thiết bị, và đào tạo vài người làm chủ hệ thống.

Mỗi giai đoạn tính bằng tháng chứ không phải tuần. Doanh nghiệp đi đều từng bước thường làm tốt hơn doanh nghiệp mua một hệ thống tích hợp lớn ngay một lần.

Ba tình huống ở Việt Nam

Nhà máy may ở Đồng Nai. Một nhà máy cỡ vừa may hàng cho các thương hiệu nước ngoài mất đơn vì giao trễ. Giám đốc được chào một gói “nhà máy thông minh” trọn bộ. Thay vào đó, đội ngũ ghi lại xem chuyền may dừng vì đâu, và phát hiện phần lớn thời gian mất là do chờ bán thành phẩm từ tổ cắt và do vài máy hay trục trặc. Chỉ cần theo dõi số hoá các bó hàng đi từ tổ cắt sang chuyền may, cộng bảo trì có kế hoạch cho mấy máy đó, tỷ lệ giao đúng hẹn đã cải thiện rõ. Tới lúc đó họ mới tính tới máy cắt tự động, với con số thật trong tay để cân nhắc.

Hợp tác xã cà phê ở Lâm Đồng. Một hợp tác xã xuất khẩu cà phê được khách mua châu Âu yêu cầu chứng minh hạt từ đâu và được trồng thế nào. Một bên tư vấn gợi ý dùng blockchain. Nhu cầu thật của hợp tác xã là hồ sơ đáng tin: vị trí vườn, ngày thu hoạch, vật tư đã dùng, số lô qua từng khâu chế biến. Một cơ sở dữ liệu dùng chung được thiết kế tốt, cộng ứng dụng điện thoại để nông dân nhập liệu, là đủ đáp ứng yêu cầu của khách với chi phí thấp hơn nhiều. Bài học là chọn công cụ theo yêu cầu, không theo xu hướng.

Xưởng cơ khí chính xác cung ứng cho nhà máy nước ngoài. Một xưởng gia công cơ khí gia đình muốn làm nhà cung cấp cho một tập đoàn điện tử lớn, bên này đòi dữ liệu chất lượng chi tiết cho từng lô hàng. Chủ xưởng đầu tư dụng cụ đo kỹ thuật số tự ghi kết quả, cho hai kỹ thuật viên trẻ học kiểm soát chất lượng bằng thống kê, và dùng đúng định dạng dữ liệu khách yêu cầu. Khoản đầu tư khiêm tốn nhưng mở được cửa sang những đơn hàng giá trị cao hơn. Leo nấc chuỗi giá trị ở quy mô một doanh nghiệp trông chính là như vậy.

Cả ba trường hợp, công nghiệp 4.0 bắt đầu từ một bài toán kinh doanh, dùng dữ liệu trước khi tự động hoá, và lớn lên theo từng bước. Công nghệ là phương tiện, không phải mục tiêu.

Những sai lầm hay gặp khi doanh nghiệp “lên 4.0”

Mua nền tảng trước khi xác định vấn đề. Những gói phần mềm, phần cứng lớn mua theo tầm nhìn của nhà cung cấp thường chỉ dùng được một nửa. Bắt đầu từ một điểm đau đo được.

Bỏ qua mốc so sánh. Không đo hiện trạng trước khi thay đổi thì không ai chứng minh được khoản đầu tư có hiệu quả, và lần xin ngân sách sau càng khó.

Thu dữ liệu mà không ai dùng. Bảng điều khiển không ai xem là tốn tiền vô ích. Mỗi luồng dữ liệu phải gắn với một quyết định và một người chịu trách nhiệm.

Tự động hoá một quy trình dở. Tự động hoá làm quy trình lộn xộn chạy nhanh hơn chứ không làm nó tốt hơn. Sửa mặt bằng, luồng đi, tiêu chuẩn trước.

Phớt lờ người lao động. Công nhân sợ mất việc hoặc thấy công cụ vướng víu sẽ tìm cách lách. Kéo họ vào từ sớm và đầu tư đào tạo.

Quên bảo trì và hỗ trợ. Cảm biến, robot, phần mềm đều cần bảo dưỡng, phụ tùng và người hiểu chúng. Tính ngân sách cho nhiều năm, không chỉ khâu lắp đặt.

Kết nối máy mà không bảo mật. Thiết bị nhà xưởng để mật khẩu mặc định, nằm chung mạng văn phòng là cửa mở cho mã độc tống tiền. Tính chuyện tách mạng ngay từ đầu.

Chép chiến lược của tập đoàn lớn. Thứ chạy được ở công ty đa quốc gia có cả phòng kỹ thuật hiếm khi hợp với doanh nghiệp gia đình. Đặt tham vọng vừa với năng lực.

Khi nào nên tìm chuyên gia, và tìm ai?

Lời khuyên độc lập đáng giá nhất ở lúc bắt đầu, khi chọn vấn đề để giải và cách đo nó, và trước bất kỳ khoản mua sắm lớn nào. Tìm người tư vấn không ăn hoa hồng của nhà cung cấp nào, như khoa kỹ thuật của các trường đại học, hiệp hội ngành nghề hay chuyên gia có kinh nghiệm chỉ ra được kết quả ở những nhà máy tương tự.

Cần chuyên gia cho những thay đổi liên quan an toàn. Lắp robot, sửa hệ thống điện hay cải tạo máy móc phải có kỹ sư đủ chuyên môn và tuân thủ quy định an toàn lao động. Thiết kế mạng cho nhà máy kết nối nên có người kinh nghiệm an ninh mạng công nghiệp, vì hệ thống nhà xưởng vận hành khác hẳn công nghệ thông tin văn phòng.

Việc làm, người lao động và các chương trình hỗ trợ

Với thay đổi ảnh hưởng tới việc làm, như tự động hoá làm giảm nhu cầu một số vị trí, hãy hỏi luật sư hoặc chuyên gia nhân sự về nghĩa vụ với người lao động, và lên kế hoạch đào tạo lại. Với yêu cầu xuất khẩu về truy xuất nguồn gốc hay dữ liệu bền vững, nói chuyện trực tiếp với khách mua và các cơ quan xúc tiến thương mại trước khi chọn hệ thống.

Các chương trình của nhà nước và quốc tế hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyển đổi số có tồn tại và thay đổi theo thời gian; hãy hỏi Sở Công Thương hoặc hiệp hội doanh nghiệp nơi mình về chương trình hiện hành, đừng dựa vào thông tin cũ.

Câu hỏi thường gặp

Nói đơn giản, công nghiệp 4.0 là gì?

Là dùng cảm biến kết nối, dữ liệu, AI và tự động hoá để đo và cải thiện cách sản xuất, phân phối hàng hoá. Trong thực tế, nó thường bắt đầu từ dữ liệu tốt hơn chứ không phải từ robot.

Công nghiệp 4.0 có lấy mất việc của công nhân Việt Nam không?

Một số việc lắp ráp, kiểm tra lặp lại sẽ giảm khi tự động hoá lan rộng, trong khi nhu cầu tăng với kỹ thuật viên vận hành, bảo trì thiết bị. Tốc độ tuỳ chi phí và quyết định đầu tư, nên trau dồi kỹ năng kỹ thuật là cách tự bảo vệ tốt nhất.

Doanh nghiệp sản xuất nhỏ nên bắt đầu từ đâu?

Từ một vấn đề đo được, như máy dừng hay hàng lỗi, đo bằng tay trước rồi số hoá. Chỉ thêm cảm biến và tự động hoá khi dữ liệu đã cho thấy chỗ nào đáng đầu tư.

Công nghiệp 4.0 có phải chỉ dành cho tập đoàn nước ngoài?

Không. Cảm biến giá rẻ, phần mềm đám mây và máy tính bảng giúp nhiều bước vừa túi tiền doanh nghiệp nhỏ, và đáp ứng được yêu cầu dữ liệu của khách mua lớn thường chính là thứ giúp nhà cung cấp trong nước giành đơn tốt hơn.

Kỹ năng nào quan trọng nhất cho việc làm thời 4.0?

Bảo trì kỹ thuật, hiểu và dùng dữ liệu, lập trình cơ bản, kiểm soát chất lượng và khả năng làm việc cùng hệ thống tự động, cộng tiếng Anh để đọc tài liệu và làm việc với đối tác nước ngoài. Khả năng giải quyết vấn đề quan trọng không kém bất kỳ công cụ nào.

Truy xuất nguồn gốc có cần blockchain không?

Thường là không. Phần lớn khách mua cần hồ sơ đáng tin, nhất quán, mà một cơ sở dữ liệu thiết kế tốt đáp ứng được. Blockchain chỉ có ích khi nhiều bên phải dùng chung một sổ ghi mà không tin một bên vận hành.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.